Page 74 - Sách 50 năm
P. 74
Phần V: Truyền thống tự hào 73
hững năm mới giải phóng tới thập niên 90 của
thế kỷ XX, nền kinh tế nước ta rất khó khăn, và
nngành Điện cũng vậy. Tôi không thể quên những
buổi họp điều độ liên tục mà chủ đề chỉ xoay quanh việc
vận hành và khắc phục sự cố của các nhà máy điện hay
việc giải quyết nguồn tiền mua dầu, phân bổ công suất,
sản lượng cho từng tỉnh, lên lịch cắt điện luân phiên… Khi
ấy, hệ thống lưới điện cũ nát, chắp vá nghèo nàn và chỉ
tập trung ở một số đô thị lớn, sử dụng điện đối với người
dân nông thôn là một ước mơ còn rất xa vời.
Từ năm 1996, chương trình đưa điện về nông thôn đã
được Chính phủ đưa ra với phương châm “Nhà nước và
nhân dân, Trung ương và địa phương cùng làm”. Ban
đầu, có vài xã thí điểm, tuy nhiên do thiếu vốn, nên triển
khai chưa được tốt. Đến năm 1998, Việt Nam ký hiệp
định với Ngân hàng Thế giới, chương trình điện khí hóa
nông thôn bắt đầu. Sau đó, có thêm Cơ quan Phát triển
Pháp (AFD) tham gia tài trợ vốn. Kết quả đến nay, Việt
Nam trở thành hình mẫu của thế giới về điện khí hóa
nông thôn, với tỷ lệ số hộ dân có điện trong cả nước hơn
99,9%, số hộ dân nông thôn có điện lên tới 99,86%.
Trong đó, miền Nam cũng đã đạt 100% xã/thị trấn có
điện, 99,9% số hộ dân được sử dụng điện, trong đó hộ
dân nông thôn đạt 99,82%, Để có được những thành
quả quan trọng đó, những lãnh đạo thế hệ trước tôi đã
làm việc “dữ dội” lắm. Từ làm việc với lãnh đạo cấp trên,
với địa phương, đến gặp gỡ, đàm phán với các tổ chức Đồng chí Nguyễn Thành Duy (thứ 2, từ phải sang) nhận Bằng khen tại Lễ khánh thành Dự án cáp ngầm 110kV xuyên biển
quốc tế… tất cả để có thể huy động được nguồn vốn. Hà Tiên - Phú Quốc, năm 2014.

