Page 48 - Tổng công ty Điện lực miền Nam 45 năm xây dựng và phát triển.
P. 48
Công suất, sản lượng hệ thống điện miền Nam trước ngày
30/4/1975
Năm 1961 Năm 1970 Năm 1974
Công suất đặt
(MW) 100 532 812,9
Sản lượng điện
(triệu kWh) 328 1.210 1.624,8
‘Bộ ba” Thủy điện Đa Nhim, Nhiệt điện Thủ Đức, Nhiệt
điện Chợ Quán cấu thành lưới điện 230 kV/66 kV với trục
truyền tải điện 230 kV Đa Nhim - Thủ Đức dài 152 km cung
cấp điện năng cho thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn và phụ cận
lúc bấy giờ. Song đường truyền tải 230 kV này và Thủy điện Đa
Nhim vận hành chỉ được 1 năm (giai đoạn 1964 - 1965) thì
chiến tranh làm hư hỏng, nên phải ngừng hoạt động, sau giải
phóng miền Nam mới phục hồi được.
Nhà máy điện Chợ Quán năm 1930 Hệ thống điện miền Nam trong thời kỳ này được xây dựng
điện Đa Nhim 160 MW (phát điện năm 1964, là thủy điện thích ứng với điều kiện có chiến tranh, nguồn điện và lưới điện
loại lớn đầu tiên của Việt Nam), đã cấp tốc xây dựng các nguồn tập trung ở thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn, chiếm 82%, còn ở các
nhiệt điện chạy dầu, đầu tư mua nhiều cỗ máy tuabin khí chạy thị xã, tỉnh lỵ và thị trấn - chi khu quân sự thì điện diesel cung cấp
dầu và nhiều cụm diesel di động công suất lớn để lắp đặt tại các tại chỗ. Những nơi phụ tải cao có tăng cường lắp các cụm diesel
nơi có nhu cầu ở các thành phố và chi khu quân sự. Trong đó, và các tổ máy tuabin khí chạy dầu. Vào năm cao điểm của hệ
có Nhiệt điện Thủ Đức (công suất 165 MW, là nhiệt điện chạy thống điện, tổng công suất điện diesel và nhiệt điện dầu chiếm
dầu loại lớn đầu tiên của Việt Nam) phát điện tổ máy 1 năm gần 90% tổng công suất của hệ thống. Đây là một hệ thống điện
1966 và các tổ máy 2, 3 năm 1972. lệ thuộc vào dầu nhập khẩu và phụ thuộc nước ngoài.
47

