Ngày 10/10/2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 121/2013/NĐ-CP (Nghị định 121) quy định xử phạt vi phạm hành chính trong 5 lĩnh vực: Hoạt động xây dựng; Kinh doanh bất động sản; Khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; Quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; Quản lý phát triển nhà và công sở. Nghị định 121 có hiệu lực từ ngày 30/11/2013 thay thế cho Nghị định số 23/2009/NĐ-CP ngày 27/2/2009 (Nghị định 23).
Sau đây là một số nội dung đáng lưu ý liên quan đến hoạt động xây dựng công trình của ngành Điện. Trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, có thể nói Nghị định 121 là công cụ chuyên chính của Nhà nước nhằm tăng cường kỷ cương phép nước trật tự xây dựng, song hành với Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 6/2/2013 về quản lý chất lượng công trình xây dựng (Thay thế Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/2/2004).
Tuy cùng có 9 Chương và 72 Điều, so với Nghị định 23, Nghị định 121 một mặt bổ sung nhiều mức phạt tiền đối với các vi phạm trong hoạt động xây dựng từ 103 lên 220 sai phạm, tăng mức phạt tiền đối với sai phạm gây hậu quả lớn, đi kèm các biện pháp khắc phục hậu quả, cụ thể như sau:
- Tăng từ 500 triệu lên 1 tỷ đồng đối với sai phạm thi công không có giấy phép hoặc thi công sai giấy phép mà tái phạm sau khi đã có biên bản đình chỉ; đồng thời truy thu số lợi phạm pháp (số lợi có được do thực hiện hành vi vi phạm).
- Tăng từ 30 triệu lên 100 triệu đồng đối với sai phạm chậm quyết toán công trình.
- Tăng từ 60 triệu lên 80 triệu đồng đối với sai phạm áp dụng sai quy chuẩn, tiêu chuẩn quy định.
- Tăng từ 50 triệu lên 60 triệu đồng đối với sai phạm trong giám sát thi công.
- Tăng từ 15 triệu lên 40 triệu đồng đối với sai phạm trong đền bù giải phóng mặt bằng, đồng thời truy thu số lợi phạm pháp.
- Tăng từ 30 triệu lên 40 triệu đồng đối với sai phạm trong bảo hành, bảo trì công trình.
- Bổ sung phạt tiền đến 50 triệu đồng đối với sai phạm của chủ đầu tư trong việc lựa chọn nhà thầu nước ngoài, và phạt tiền đến 60 triệu đồng đối với sai phạm của nhà thầu nước ngoài.
Ngoài ra, còn một số nội dung mới của Nghị định 121 so với Nghị định 23:
- Đối với các sai phạm có tính hệ thống trong nhiều công trình, hạng mục công trình thì áp dụng mức xử phạt cho mỗi công trình, mỗi hạng mục công trình.
- Thời hiệu xử phạt sai phạm là 2 năm, được tính từ thời điểm:
- Công trình được bàn giao, đưa vào sử dụng (trường hợp sai phạm đã kết thúc trước đó);
- Cấp thẩm quyền phát hiện sai phạm (trường hợp sai phạm đang được thực hiện).
- Cấp thẩm quyền phát hiện sai phạm chuyển hồ sơ đến cấp thẩm quyền xử phạt (trường hợp sai phạm đang được thực hiện).
- Chấm dứt hành vi trốn tránh cản trở việc xử phạt.
- Mức phạt tiền đối với cá nhân bằng ½ mức phạt tiền đối với tổ chức.
- Áp dụng mức phạt đến 60 triệu đồng đối với sai phạm tổ chức thi công xây dựng công trình sai thiết kế đã được duyệt hoặc sai quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc sai tiêu chuẩn được quy định áp dụng.
- Áp dụng mức phạt đến 40 triệu đồng đối với các sai phạm sử dụng vốn nhà nước:
- Lập dự án đầu tư xây dựng công trình không đầy đủ nội dung theo quy định;
- Phê duyệt biện pháp tổ chức thi công không đảm bảo tính kinh tế - kỹ thuật, tính toán cự ly vận chuyển, phương tiện vận chuyển không phù hợp thực tế làm tăng chi phí trong dự toán;
- Phê duyệt dự toán có nội dung áp dụng mã định mức không phù hợp với nội dung công việc; số liệu sai lệch so với nội dung mã định mức áp dụng;
- Phê duyệt dự toán có nội dung áp dụng định mức chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt mà định mức đó cao hơn định mức đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
- Phê duyệt dự toán khi không có bản vẽ thiết kế các công trình phụ trợ, công trình tạm phục vụ công trình chính nhưng đưa khối lượng các công trình này vào dự toán để tính chi phí xây dựng.
- Để nhà thầu thi công thi công sai thiết kế được duyệt; thi công không đúng với biện pháp tổ chức thi công được duyệt;
- Để nhà thầu thi công không có bảo lãnh thực hiện hợp đồng hoặc bảo lãnh không đủ theo quy định; không gia hạn bảo lãnh hợp đồng khi đến thời hạn gia hạn bảo lãnh hợp đồng.
- Không gửi hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền để thẩm tra thiết kế.
- Không tổ chức thẩm định, phê duyệt quy trình bảo trì trước khi nghiệm thu công trình đưa vào sử dụng.
Áp dụng mức phạt đến 20 triệu đồng đối với các sai phạm:
- Không thẩm định lại theo quy định khi điều chỉnh thiết kế;
- Phê duyệt dự toán có khối lượng không phù hợp với khối lượng bản vẽ thiết kế;
- Phê duyệt thiết kế không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn quy định; sử dụng tiêu chuẩn xây dựng hết hiệu lực; sử dụng tiêu chuẩn nước ngoài mà chưa được cơ quan có thẩm quyền công nhận;
- Không tổ chức lập, phê duyệt chỉ dẫn kỹ thuật đối với công trình buộc phải lập chỉ dẫn kỹ thuật;
- Phê duyệt chỉ dẫn kỹ thuật không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn áp dụng cho dự án đầu tư xây dựng đã được phê duyệt;
- Phê duyệt thiết kế an toàn quá mức cần thiết theo quy định đối với công trình sử dụng vốn nhà nước;
- Không tổ chức nghiệm thu hoặc tổ chức nghiệm thu hồ sơ thiết kế xây dựng không đúng quy định.
Khác với Nghị định 209, theo Nghị định 15:Trước khi trình cấp thẩm quyền phê duyệt dự án, chủ đầu tư phải trình hồ sơ dự án cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Sở Công Thương/ Sở Xây dựng) thẩm tra, chấp thuận.Trước khi tổ chức nghiệm thu công trình đưa vào vận hành, chủ đầu tư phải trình báo cáo hoàn thành công trình và hồ sơ hoàn thành công trình cho cơ quan có thẩm quyền xem xét, kiểm tra công trường, kết luận chấp thuận bằng văn bản. Như vậy, so với Nghị định 23, Nghị định 121 đã được thực tiễn hóa vào trong hoạt động xây dựng hàng ngày vì các cơ quan quản lý nhà nước đã có đầy đủ các điều kiện chủ quan và khách quan để kịp thời kiểm tra phát hiện và xử phạt sai phạm.
Do đó, trong công tác đầu tư xây dựng các đơn vị ngành điện cần tăng cường thường xuyên quan tâm rà soát tổ chức triển khai đúng quy định ở tất cả các giai đoạn, các khâu để phòng tránh từ đầu các sai sót có thể dẫn đến bị xử phạt hành chính theo Nghị định 121./.