Nhớ lại những ngày đầu mới giải phóng miền Nam, hệ thống điện của cả nước nói chung và miền Nam nói riêng còn rất thô sơ, nhỏ bé, nguồn điện thì chỉ có một số nhà máy nhiệt điện như Thủ Đức, Chợ Quán, Trà Nóc, thủy điện thì có Đa Nhim; cung cấp lượng điện vào khoảng 1,3 tỷ kWh/năm. Sau giải phóng, rất nhiều công việc bề bộn để phục hồi lại nền kinh tế, chúng ta chưa có hệ thống điện thống nhất nên để đáp ứng nhu cầu điện tăng rất cao lúc bấy giờ thì hết sức vất vả. Các Công ty Điện lực miền được thành lập, Công ty Điện lực 2 lúc bấy giờ phải tập trung vào việc phục hồi hệ thống lưới điện như bảo dưỡng các nhà máy điện, sửa chữa tuyến đường dây 220kV Đa Nhim - Sài Gòn… để đảm bảo vận hành và nâng cao khả năng cung cấp điện ở miền Nam.
Vượt qua thời kỳ khó khăn, Công ty Điện lực 2 đã phát triển nhanh hơn từ khi chúng ta đóng điện đường dây 500kV Bắc - Nam. Sự phát triển vượt bậc ấy thể hiện qua tốc độ tăng điện thương phẩm bình quân bao giờ cũng nhanh hơn bình quân của cả nước, tính từ năm 1995÷2014 điện thương phẩm tăng bình quân hàng năm là 18,4%, trong khi đó cả nước chỉ tăng khoảng 13%, vì lưới điện miền Nam chịu trách nhiệm cung cấp điện cho 2 vùng kinh tế trọng điểm của cả nước là Đông Nam bộ và Tây Nam bộ.
Cùng với quá trình phát triển ấy, phải đồng thời phát triển các nguồn điện mới như Trị An, Bà Rịa, Phú Mỹ… và toàn bộ hệ thống lưới điện cũng như phải lo mở rộng lưới điện nông thôn. Tôi vẫn nhớ trường hợp cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt khi đến thăm đồng bằng sông Cửu Long vào buổi tối, Thủ tướng có gọi điện về cho tôi và nói: “Tao xúc động quá, vì tao đang đi thuyền trên Đồng Tháp Mười, buổi tối nhưng vẫn thấy xung quanh có ánh điện”. Có thể nói đấy là giấc mơ ngàn đời mà người dân chúng ta không nghĩ là có thể có được, và nó là một động lực to lớn trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cải thiện đời sống văn hóa tinh thần của người dân ở nông thôn.
Đây cũng là thành tích đáng tự hào của Công ty Điện lực 2 (Tổng công ty Điện lực miền Nam hiện nay), tốc độ phủ điện rất nhanh đối với khu vực nông thôn, tạo điều kiện cho nông thôn, nông dân phát triển kinh tế và cải thiện đời sống của mình. Một tốc độ phủ điện về nông thôn đáng kinh ngạc. Tôi nhớ dến năm 1998 khi còn là Tổng Giám đốc Tổng công ty Điện lực Việt Nam thì tỉ lệ phủ điện khu vực nông thôn của miền Nam vẫn còn rất thấp, chỉ khoảng 50-60%, bản thân lưới điện truyền tải còn rất yếu, toàn bộ khu vực Tây Nam Bộ tiềm năng phát triển rất lớn như vậy mà chỉ có một đường độc đạo cung cấp cho toàn bộ miền Tây nên thường xuyên thiếu điện hoặc chất lượng điện áp không đảm bảo. Đến nay ở miền Nam, tỉ lệ số hộ dân nông thôn có điện đã là 98%, sản lượng điện thương phẩm 44,6 tỷ kWh, tăng trưởng vượt bậc trên 35 lần. Song song đó là việc tiên phong trong ứng dụng công nghệ mới vào quản lý và phát triển như hệ thống SCADA đối với lưới điện 110kV, hệ thống đo ghi điện năng từ xa, tiêu chuẩn lưới điện phân phối, tiêu chuẩn hóa dịch vụ để nâng cao chất lượng phục vụ cho trên 6 triệu khách hàng.
Một quá trình 40 năm phát triển như vậy, với những kết quả như vậy thì chứng tỏ Tổng công ty Điện lực miền Nam có đội ngũ cán bộ rất dày dặn. Tôi có may mắn là được làm việc với lớp cán bộ, có thể nói là “lớp cán bộ vàng” thời đấy. 40 năm đã trôi qua, tôi chỉ được tham gia một khoảng thời gian rất nhỏ bé trong giai đoạn đó thôi, nhưng mà được biết, được làm việc với các đồng chí lãnh đạo của ngành Điện nói chung và ngành Điện miền Nam nói riêng thì tôi rất tự hào và có thể nói là mình rất may mắn vì được làm việc với những lớp cán bộ như vậy. Mình được trưởng thành, và học được rất nhiều.
Những lớp cán bộ như anh Hai Lưu - Giám đốc Công ty Điện lực 2, trước đây là Vụ trưởng Vụ tổ chức cán bộ của Bộ Điện & Than, năm 1978 được điều vào xây dựng và phát triển Công ty Điện lực 2 trong tình hình thời gian đấy rất khó khăn vì nhu cầu điện vô cùng cao nhưng khả năng đáp ứng thì rất thấp. Anh là một người cán bộ rất lão luyện, đặc biệt có uy tín nên được anh em cán bộ trong ngành rất quý, rất phục cho nên anh đã lãnh đạo Công ty Điện lực 2 đạt rất nhiều thành tích và vượt qua giai đoạn khó khăn lúc ấy. Có thể nói vai trò của anh Hai Lưu là vai trò tập hợp, đoàn kết và động viên lớp cán bộ kỹ thuật thời ấy. Lớp cán bộ kỹ thuật, kể cả những kỹ sư đã được đào tạo từ chế độ cũ, kể cả những cán bộ được điều từ miền Bắc vào cùng đoàn kết một lòng để làm việc và phấn đầu cho ngành Điện miền Nam.
Hay là các Giám đốc sau anh Hai Lưu có anh Mười Bính, anh Giàu, anh Ba Duy đều là những cán bộ có nhiệt huyết trong công việc và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Những lớp cán bộ đó đã qua từng thời gian, cùng năm tháng qua 40 năm trang sử và phát triển ngành Điện hôm nay và rất nhiều đồng chí khác nữa, đã đóng góp cho ngành điện miền Nam trong giai đoạn khó khăn nhất để bảo đảm cho lưới điện miền Nam. Như cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói, phát triển lưới điện miền Nam, phát triển kinh tế miền Nam, không chỉ phát triển kinh tế mà còn có ý nghĩa chính trị hết sức to lớn vì chúng ta giải phóng miền Nam và nếu chúng ta không chứng minh được chúng ta có khả năng đưa kinh tế miền Nam và của cả nước đi lên thì chúng ta thất bại. Chính vì tâm niệm đó mà những người cán bộ, kỹ sư đã nỗ lực hết mình đóng góp công sức nhỏ bé cho sự phát triển chung của ngành và của đất nước.
Bằng những nỗ lực không ngừng đó để vượt qua nhiều thách thức, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, tập thể lãnh đạo, CBCNV của Công ty Điện lực miền Nam, rồi Công ty Điện lực 2 mà nay là Tổng công ty Điện lực miền Nam đã đạt được rất nhiều phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước đã trao tặng, đặc biệt là đạt được danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới vào năm 2005. Đây là phần thưởng hết sức xứng đáng. Tôi nghĩ đội ngũ cán bộ và những người lao động của công ty Điện lực miền Nam cần thấy tự hào về những thành quả đạt được và tiếp tục phấn đấu cho những thành tích to lớn hơn trong thời gian tới để đáp ứng đầy đủ nhu cầu điện với chất lượng ngày càng cao, dịch vụ ngày càng hoàn hảo. Thật sự là ngành động lực cho phát triển kinh tế - xã hội miền Nam nói riêng và của cả nước nói chung.