Trong số 21 tỉnh/thành phố thuộc địa bàn quản lý vận hành lưới điện của Tổng công ty Điện lực miền Nam có 13 tỉnh, thành có hệ thống sông ngòi chằng chịt với nhiều cù lao có người dân sinh sống ổn định, bao gồm: Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, Hậu Giang, An Giang và TP. Cần Thơ. Do vậy, việc xây dựng hệ thống lưới điện cho khu vực này là rất khó khăn và tốn kém.

Cáp ngầm điện 1 lõi.
Trước năm 2000, do hạn chế về công nghệ và kỹ thuật xây dựng hệ thống điện ngầm, giải pháp vượt sông bằng cáp ngầm áp dụng rất hạn chế, chỉ trong phạm vi lòng sông có chiều rộng khoảng 300m và trong trường hợp không thể vượt sông bằng đường dây trên không (ĐDK).
Thời gian gần đây, rất nhiều công ty xây lắp có khả năng thi công công trình ngầm sử dụng kỹ thuật khoan Robot định hướng đặt ống và cáp dùng trang thiết bị tiên tiến với tầm xa đến 1.000m, hoặc áp dụng kỹ thuật xẻ rãnh ngang sông và dùng thợ lặn lắp đặt ống, cáp với tầm xa đến 1.500m.
Nhằm nâng cao độ tin cậy cung cấp điện trong khu vực, EVN SPC đang triển khai thực hiện các công trình đường dây 110kV liên kết giữa các trạm 220kV. Vì vậy, đường dây 110kV vượt sông xuất hiện ngày càng nhiều. Ngoài ra, các đường dây 22kV hiện hữu vượt sông bằng ĐDK đã đến thời điểm cải tạo, nâng cấp. Tuy nhiên, chi phí xây dựng ĐDK vượt sông có khuynh hướng tăng cao do chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng (GPMB) tính theo giá thị trường, độ tĩnh không quy định phù hợp với tàu bè có kích thước ngày càng lớn hơn. ĐDK thiết kế đi vòng đến điểm vượt thích hợp làm tăng chiều dài cũng góp phần làm tăng chi phí xây dựng.
Từ những lý do trên, EVN SPC đã tiến hành xem xét, đánh giá lại ưu nhược điểm giữa giải pháp đi ngầm và vượt bằng ĐDK để lựa chọn phương án phù hợp và mang lại hiệu quả đầu tư cao. Cụ thể là công trình đường dây 110kV Hồng Ngự - Phú Châu (tỉnh Đồng Tháp) đang lập thủ tục chuẩn bị đầu tư để nối tuyến mạch vòng giữa 2 trạm 220kV Cao Lãnh và 220kV Châu Đốc, trong đó có đoạn vượt ngang sông Tiền với khoảng rộng gần 1.000m.
Giải pháp kỹ thuật chính cho phương án vượt bằng ĐDK là sử dụng trụ tháp cao đến 120m mới đảm bảo độ quy định về độ tĩnh không là 45m, dây dẫn loại ACSR 410; giải pháp cho phương án ngầm sử dụng cáp đồng XLPE 110kV, loại một lõi tiết diện 630mm2 luồn trong ống bảo vệ HDPE chôn ở độ sâu so với đáy sông từ 2m đến 5m, thi công bằng cách xẻ rãnh tạo mương cáp và kết hợp thợ lặn đặt ống qua sông.
So sánh tổng mức đầu tư cho phương án vượt bằng ĐDK (khoảng 54 tỷ đồng) so với tổng mức đầu tư cho phương án đi ngầm vượt sông (khoảng 59 tỷ đồng), sự chênh lệch là không đáng kể. Trong đó phương án vượt bằng ĐDK chưa tính đến chi phí bảo trì, sửa chữa trong quản lý vận hành như: kiểm tra định kỳ đo độ lệch tâm, sơn bảo vệ, xiết bu lông …
Phương án ĐDK gặp nhiều khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng do: giá bồi thường ngày càng tăng theo giá thị trường; có những nơi không thể giải quyết được mặt bằng; đất móng trụ và hành lang chiếm dụng diện tích lớn nhưng không sử dụng, không tạo ra lợi ích trong xã hội trong suốt tuổi thọ dự án, gây lãng phí quỹ đất.
Tóm lại, hiện nay giải pháp vượt sông bằng cáp ngầm là phương án cần phải được xem xét, đánh giá trong công tác lập và thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình vượt sông do tính hiệu quả của nó khi phân tích, so sánh về các phương diện: chi phí xây dựng cáp ngầm có xu hướng ngày càng giảm; hạn chế các khó khăn, trở ngại về bồi thường GPMB; phù hợp chủ trương tiết kiệm các chi phí bảo trì, sửa chữa trong quản lý vận hành; ngoài ra phương án đi ngầm khắc phục được các rủi ro khách quan như bão, lốc xoáy, tàu thuyền đi lại đi sông…