Đầu tư và phát triển lưới điện

Tây Nguyên trên đường phát triển (bài 2) : Chú trọng thực hiện chính sách dân tộc, quan tâm đời sống văn hóa - xã hội.

  • 03:38 - 06/07/2012
  • 1964

Cùng với chính sách phát triển miền núi trong cả nước, Đảng và Chính phủ đã có nhiều chính sách đặc thù đối với vùng đồng bào DTTS Tây Nguyên, trên cơ sở tập trung giải quyết những vấn đề cấp bách về đất đai, nhà ở, giao rừng, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc.

 

Trước hết, Tây Nguyên được dành một nguồn lực khá lớn từ Chương trình 168, 135 và các chương trình mục tiêu quốc gia đầu tư xây dựng hạ tầng nông thôn và định canh định cư cho đồng bào DTTS gắn với việc tổ chức lại sản xuất. Đến nay, trên 87% số hộ đã ĐCĐC (66,5% ĐCĐC vững chắc). Tỉnh Lâm Đồng đã hoàn thành định canh định cư, tỉnh Kon Tum đạt 91%, tỉnh Gia Lai 98%, tỉnh Đăk Lăk 93%. Toàn vùng còn khoảng 25.000 hộ với trên 100.000 nhân khẩu tiếp tục định canh định cư. Hệ thống đường giao thông nông thôn nhiều nơi đã đến tận các buôn làng, kể cả vùng sâu, biên giới và vùng căn cứ kháng chiến. Trong vùng DTTS có 81% số buôn, làng có điện lưới quốc gia, 86% số hộ được dùng điện, 57% hộ được dùng nước sạch, 82% số buôn làng đã có nhà trẻ, lớp mẫu giáo. Chương trình 132, 134 về giải quyết đất ở, đất sản xuất, nhà ở, nước sinh hoạt cho đồng bào là một trong những chủ trương đột phá, có ý nghĩa về kinh tế, xã hội sâu sắc, đã được triển khai liên tục từ năm 2002 đến nay, giải quyết được 639 ha đất ở cho 15.470 hộ và 29.200 ha đất sản xuất cho 56 nghìn hộ. Riêng Chương trình 134 đã làm mới, sửa chữa 58.249 căn nhà, hai năm gần đây, tiếp tục đầu tư hỗ trợ gần 24 nghìn hộ đồng bào DTTS nghèo làm nhà ở theo Nghị quyết 30a của Chính phủ và Quyết định 167 của Thủ tướng Chính phủ; cấp nước sinh hoạt 78 nghìn hộ, giải quyết 5.726 ha đất sản xuất cho 16.934 hộ. Đã thí điểm giao khoán 116.470 ha rừng cho 7.320 hộ thiếu đất sản xuất (theo Quyết định 304/2005/QĐ-TTg).


Công tác giảm nghèo đã được cả hệ thống chính trị tập trung chăm lo, triển khai liên tục, rộng khắp, bằng nhiều giải pháp và đạt những kết quả rất quan trọng. Giai đoạn 2001-2005, toàn vùng xóa được 59.643 hộ nghèo, giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 21,83% xuống 8,67% (theo tiêu chí 2001), bình quân giảm 2,6%/năm. Giai đoạn 2006-2010, xóa 109.458 hộ nghèo (theo tiêu chí 2006), giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 22,85% xuống 10,23%, bình quân giảm 3,16%/năm. Năm 2011, điều tra lại hộ nghèo (theo chuẩn nghèo 2011-2015), số hộ nghèo là 262.880 hộ, chiếm 22,48%, và trong năm 2011 đã xóa được 39.833 hộ nghèo, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 19,06%.

Riêng trong vùng DTTS, đã lồng ghép nhiều dự án, chương trình mục tiêu quốc gia để đầu tư phát triển sản xuất, cải thiện đời sống. Tổ chức tốt phong trào "ngày vì người nghèo", huy động sức mạnh của toàn dân, của cộng đồng xã hội, giúp đỡ thiết thực những gia đình nghèo, địa phương nghèo. Đã xuất hiện nhiều mô hình mới, cách làm hay, tạo được bước đột phá trên một số lĩnh vực và đang trở thành những phong trào hiệu quả; như mô hình chăn nuôi hộ gia đình; mô hình liên kết với doanh nghiệp; thu hút lao động DTTS vào các nông lâm trường; cho vay vốn hỗ trợ lãi suất trồng cao su tiểu điền; đào tạo nghề, tạo việc làm tại chỗ... Nhờ vậy, mỗi năm vùng DTTS giảm được 4,6-4,8% hộ nghèo. Chất lượng giảm nghèo từng bước nâng lên, từ chỗ giải quyết vấn đề ăn mặc, cứu đói, cứu rét là chủ yếu, đã tiến tới giải quyết vấn đề đất đai, việc làm, sinh kế, từng bước cải thiện hạ tầng, nhà ở và cải thiện đời sống văn hóa, tinh thần để giảm nghèo bền vững hơn. Trên cơ sở đó, sự nghiệp giáo dục-đào tạo trên Tây Nguyên đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Đã hình thành 484 trung tâm học tập cộng đồng; xây dựng, nâng cấp 53 trường bán trú dân nuôi không ngừng mở rộng. Việc dạy tiếng DTTS cho học sinh được quan tâm. Cả 5 tỉnh đều có chính sách ưu đãi, hỗ trợ học sinh, sinh viên DTTS với khả năng cao nhất. Bên cạnh đó, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ. Cơ sở vật chất của ngành y tế đã tăng gấp 3 lần, hình thành hệ thống cơ sở y tế rộng khắp, 100% số xã có trạm y tế. Tỉnh Kon Tum, Lâm Đồng, Đăk Lăk có tỷ lệ bác sỹ tuyến cơ sở cao trong cả nước. Đến nay, đã có 66,25% xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế; một số chỉ tiêu chuyên môn về y tế đạt khá.


Kinh tế phát triển là đòn bẩy thúc đẩy Tây Nguyên quan tâm xây dựng đời sống văn hóa ở buôn làng, phát huy văn hóa truyền thống, kế thừa có chọn lọc những giá trị tiêu biểu, loại bỏ dần hủ tục, hình thành nếp sống văn minh, gia đình văn hoá. Đến nay, toàn vùng đã xây dựng 1.353 nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng, 733 nhà rông văn hóa. Các đài phát thanh, truyền hình địa phương đã phát ổn định với thời lượng khá lớn nhiều thứ tiếng DTTS (Ê-đê, Ba-na, Gia-rai, Xơ-đăng, Cơ-ho, M'nông). Thực hiện chủ trương cấp một số loại báo, tạp chí, tặng máy thu hình, thu thanh cho các buôn làng dân tộc thiểu số. Nhà nước đã đầu tư hàng chục tỷ đồng nghiên cứu, sưu tầm văn học dân gian; phục hồi di sản văn hoá cồng chiêng, tổ chức biên soạn luật tục của các dân tộc; khuyến khích bảo tồn các buôn làng cổ truyền, phát triển nghề thủ công và khôi phục các lễ hội văn hóa.


Trên cơ sở chú trọng thực hiện chính sách dân tộc và quan tâm phát triển đời sống văn hóa - xã hội, các tỉnh Tây Nguyên từng bước bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị-xã hội, nâng cao nhận thức của nhân dân; chăm lo xây dựng, củng cố khối đoàn kết dân tộc, giữ vững ổn định chính trị, xã hội ở buôn làng./.

Báo Lâm Đồng
Đánh giá bài viết

Bài viết liên quan