Tin ngành điện

Các hồ thủy điện phát huy vai trò chống hạn

  • 03:26 - 19/04/2013
  • 1135

Miền Trung và Tây Nguyên đang trải qua những đợt hạn hán nghiêm trọng. Mực nước tại hầu hết các hồ thuỷ điện (HTĐ) đã xuống gần mực nước chết. Chính phủ đã chỉ đạo ưu tiên nguồn nước các HTĐ cho sản xuất và sinh hoạt của người dân.

Công nhân Công ty thủy điện Kanak- An Khê vận hành phát điện tại nhà máy Kanak. Ảnh: Ngọc Hà/icon.com.vn

Tuy nhiên, về lâu dài, cần có các giải pháp căn cơ điều tiết hài hòa nguồn nước phục vụ phát điện và cấp nước cho hạ du trong mùa nắng nóng, khô hạn bởi hai nhiệm vụ này đều quan trọng, cấp bách như nhau, không để lãng phí tài nguyên nước.

Ưu tiên nước chống hạn

Mặc dù mới vào đầu mùa khô nhưng hầu hết HTĐ ở miền Trung và Tây Nguyên đang ở trong tình trạng cạn kiệt, một số hồ đã xuống mực nước chết. Lượng nước đổ về các hồ thấp hơn rất nhiều trung bình hằng năm. Các HTĐ chỉ tích nước đạt khoảng 30 đến 70%, vì vậy, việc bảo đảm phát điện và cấp nước cho hạ du mùa khô năm nay đặc biệt khó khăn.  Một số NMTĐ trực tiếp tham gia thị trường phát điện cạnh tranh, nay mực nước trong hồ thấp và để bảo đảm nhu cầu cấp nước cho vụ Hè Thu nên đã được tạm thời loại ra khỏi thị trường điện như các NMTĐ Hương Điền, A Vương, Sông Côn, Sông Ba Hạ, Krông H’Năng.

Tại hồ B và C Thuỷ điện Vĩnh Sơn, nước hồ chỉ cách mực nước chết khoảng 20-30cm; hồ A cách mực nước chết 5,5 m. Nếu chạy ở công suất đỉnh thì 13 ngày là phải ngừng chạy máy. Trong khi đó, năm 2012, nhà máy cũng chỉ vận hành đạt 80% công suất thiết kế.

Tổng Giám đốc Công ty Thủy điện (CTTĐ) A Vương Nguyễn Trâm cho biết, lưu lượng xả qua tua-bin phát điện trong các tháng mùa khô của NMTĐ A Vương  cao gấp 1,5 đến 2 lần so lượng nước về hồ, góp phần quan trọng điều tiết giảm hạn, chống ngập mặn cho vùng hạ du Vu Gia-Thu Bồn. Hiện lượng nước về HTĐ A Vương chỉ khoảng 8 m3/giây, trong khi công ty thực hiện phát điện luân phiên 1 tổ máy với lượng xả qua tua-bin lên tới khoảng 13 m3/giây. Với mực nước hiện có trong hồ, nếu chạy cả hai tổ máy thì chỉ trong tám ngày cũng về mực nước chết.

NMTĐ Buôn Tua Srah, là bậc thang trên của các NMTĐ Buôn Kuôp và Sêrêpôk 3, vận hành với lưu lượng xả trung bình khoảng 98 m3/giây, vận hành khoảng 8 đến 10 tiếng/ngày để vừa phát điện, vừa cung cấp nước cho hạ du với tổng lượng xả khoảng 4,358 triệu m3/ngày trong ba tháng qua. Công ty tranh thủ phát điện vào ban ngày (bắt đầu từ 5 đến 6 giờ sáng hằng ngày) để khi nước xả về đến các xã là bắt đầu từ 7 giờ sáng, thuận lợi cho việc lấy nước tập trung. Phó Giám đốc CTTĐ Buôn Kuôp Nguyễn Tấn Triết cho biết, theo biểu đồ, nhà máy đang phát điện ở vùng dưới mức hạn chế, công suất thấp hơn thiết kế Nếu trong khoảng 45 ngày nữa mà không có mưa thì HTĐ Buôn Tua Srah cũng về mực nước chết.. Mặc dù công suất của NMTĐ Buôn Tua Srah là 86 MW (2 tổ máy) nhưng lại là hồ chứa đầu nguồn có dung lích lớn nhất (522,6 triệu m3) và là hồ chứa duy nhất trên bậc thang sông Sêrêpôk có chế độ điều tiết năm, điều tiết dòng chảy trên toàn bậc thang.

Ông Đỗ Đức Hoài, Phó Giám đốc Công ty TĐ An Khê-Ka Nak cho biết, hiện nay, công ty đang yêu cầu lưu lượng chạy máy qua TĐ Ka Nak là 18 m3/s để đưa nước về hạ lưu, cung cấp nước sinh hoạt cho các huyện An Khê, Kông Chro (Gia  Lai) và nước sản xuất nông nghiệp của thị xã An Khê. TĐ An Khê cũng duy trì lưu lượng qua máy 25 m3/s để cấp nước cho lưu vực sông Côn.

Cần có thêm hệ thống thủy lợi để không lãng phí tài nguyên

Sau cuộc họp bàn biện pháp chống hạn, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên vừa qua, Văn phòng Chính phủ đã có Thông báo số 124/TB-VPCP truyền đạt ý kiến kết luật của Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải, theo đó, ưu tiên nước cho sinh hoạt của nhân dân, chăn nuôi gia súc… Trước tình hình hạn hán nghiêm trọng nêu trên, lần đầu tiên trong nhiều năm qua, một đoàn công tác liên ngành gồm Tổng cục Thuỷ lợi, Cục trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đến các địa phương miền Trung, Tây Nguyên làm việc với các UBND  tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các công ty thủy nông, Chi cục Thủy lợi, các đơn vị phát điện tại từng khu vực. Sau buổi làm việc, các bên đã thống nhất được lịch xả nước của các Nhà máy thủy điện (NMTĐ). Quan điểm của Tổng cục Thủy lợi là rút ngắn thời vụ, xả nước tập trung, tránh kéo dài lãng phí nguồn nước, điều tiết hài hòa nguồn nước cho sinh hoạt, sản xuất và phát điện trên tinh thần tiết kiệm theo đúng tinh thần chỉ đạo của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải. Hầu hết các địa phương đều đánh giá cao sự giúp đỡ, phối hợp của các NMTĐ, Trung tâm điều độ hệ thống điện quốc gia (Ao) đối với ngành nông nghiệp trên địa bàn.

Trên cơ sở lượng nước đã tích được trong HTĐ tính đến hiện tại cùng với dự kiến lưu lượng nước về hồ trong các tháng mùa khô (phương án tần suất nước về 75%), EVN tính toán, Nhà máy Thuỷ điện (NMTĐ) A Vương đáp ứng nhu cầu xả nước cho hạ du của các địa phương được gần 50%; Buôn Tua Srah: hơn 101%; Sông Côn 2: 78,19%; Sông Tranh 2: 58,27%; Đác Mil 4: 80,58%; Trị An: 252,22%; Sông Ba Hạ và Sông Hinh: 147,68%... Theo các chuyên gia, xu hướng thời tiết ngày càng cực đoan. Nắng nóng, khô hạn ở miền Trung, Tây Nguyên ngày càng gay gắt. Địa hình miền Trung, Tây Nguyên đặc thù dốc, khi có lũ thì lên nhanh, nhưng cũng nhanh cạn nước. Do vậy, về lâu dài, cần  nghiên cứu, xây dựng các hồ chứa thủy lợi nhằm trữ nước, điều tiết nước cho sản xuất nông nghiệp cũng như sinh hoạt của người dân. Thông báo số 124/TB-VPCP cũng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu, quy hoạch nguồn nước, quy hoạch sản xuất phù hợp điều kiện nguồn nước để phát triển hồ chứa nước phù hợp lưu vực cung cấp nguồn nước, đẩy mạnh trồng rừng, bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn. Kinh nghiệm cho thấy, các hồ thủy lợi như Định Bình, Rào Quán, Đồng Cam… có hiệu quả rất lớn.

Phó Giám đốc Nguyễn Tấn Triết cho biết, nếu như ở miền Bắc, việc xả nước và lấy nước được triển khai tập trung, đồng bộ và thống nhất từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các chủ hồ thủy điện và đến từng người nông dân, thì ở miền Trung, Tây Nguyên lại không được như vậy. Hơn nữa, khu vực miền Trung, Tây Nguyên, không có nhiều hệ thống thuỷ lợi, kênh mương như ngoài Bắc. Thực tế cho thấy, những khu vực nào có hệ thống kênh mương thủy lợi tốt thì vẫn đủ nước cho tưới tiêu.

Trước mắt, để bảo đảm sử dụng nguồn nước hiệu quả, thiết nghĩ các địa phương miền Trung, Tây Nguyên cần tính toán nhu cầu sử dụng nước sát thực tế. Tăng cường công tác kiểm tra, sửa chữa, bảo dưỡng, nạo vét cửa cống, bể hút trạm bơm, hệ thống kênh lớn và thủy lợi nội đồng. Các ngành chức năng của tỉnh phối hợp ngành điện, các đơn vị điện lực đóng trên địa bàn tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn, hỗ trợ bà con nông dân lấy nước tập trung để bảo đảm hiệu quả./.

icon.com.vn
Đánh giá bài viết

Bài viết liên quan