Văn hóa là lĩnh vực rộng lớn, đa dạng, tinh tế. Trước đây, văn hóa phần lớn được hiểu theo nghĩa hẹp nói về văn học, nghệ thuật, lối sống, phong tục tập quán. Thậm chí có thời điểm đồng nhất văn hóa với học vấn (trình độ văn hóa). Theo nghĩa rộng văn hóa bao gồm toàn bộ hoạt động sống của con người hướng đến giá trị cốt lõi là chân - thiện - mỹ. GS. Đào Duy Anh gọi văn hóa là sinh hoạt. Chân - thiện - mỹ cũng là thước đo giá trị cho mọi hành vi của con người và xã hội loài người.
Vì văn hóa thẩm thấu trong toàn bộ đời sống xã hội, trong mọi lĩnh vực nên văn hóa cần được hiểu theo nghĩa rộng. Định nghĩa của UNESCO và của Chủ tịch Hồ Chí Minh có điểm tương đồng và theo nghĩa rộng. Song, để nhận diện rõ hơn, khi nói đến văn hóa là nói đến sự tốt đẹp và khác biệt, hay còn gọi là bản sắc.
Ngày nay, thuật ngữ văn hóa được sử dụng khả phổ biến (đôi lúc lạm dụng) trong đời sống xã hội, đặc biệt là trên các phương tiện truyền thông như là sự đòi hỏi của cộng đồng, xã hội đối với những hoạt động, động thái, hành vi, hành động của cá nhân và tập thể hay từng cộng đồng, xã hội.
Cùng với nhiều hoạt động khác trong đời sống xã hội, kinh doanh là một trong chuỗi hoạt động kinh tế. Theo GS. Đào Duy Anh, sinh hoạt kinh tế là một hoạt động văn hóa cùng với sinh hoạt xã hội và sinh hoạt trí thức. Thực chất của văn hóa kinh doanh là hoạt động vì lợi nhuận (kiếm lời) mang cốt lõi, căn tố văn hóa. Thuật ngữ văn hóa, trong tính đa dạng của nó có thể kết hợp với các động từ (hoạt động, ứng xử) như là sự hướng đích, đòi hỏi của cộng đồng về điều tốt đẹp, đồng thời có thể kết hợp với danh từ (lĩnh vực, tổ chức) như là thuộc tính mang bản sắc và sự khác biệt. Rộng hơn, khi đề cập đến một mô hình, có thể nói kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là mô hình mang bản chất tốt đẹp của văn hóa trong sản xuất kinh doanh.
Nhận diện khái quát văn hóa kinh doanh ở Việt Nam
Trước hết, văn hóa kinh doanh là hoạt động kinh doanh diễn ra vì nhu cầu, “đòi hỏi của sự sinh tồn” trong đời sống xã hội. Thực chất của kinh doanh là hoạt động kiếm lời trên cơ sở điều tiết, quản lý hoạt động sản xuất, buôn bán và dịch vụ với tư cách là hoạt động gián tiếp đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, hưởng thụ vật chất và tinh thần của con người và xã hội. Hoạt động kinh doanh là một dạng hoạt động trong lĩnh vực kinh tế cũng như các hoạt động khác như hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội.
Mọi hoạt động dù là kinh tế, chính trị hay văn hóa đều có thể dẫn đến sự tác động tích cực hay tiêu cực xuất phát từ động cơ lợi ích của con người, một nhóm người hay của cộng đồng người. Tuy nhiên, cũng như các hoạt động khác, hoạt động kinh doanh, sáng tạo trong kinh doanh có thể mang tính cá nhân hay một chủ thể kinh doanh nhưng phải được thừa nhận của cộng đồng, được cộng đồng chấp nhận thì mới tiếp tục phát triển. Song, để cộng đồng thừa nhận thì tất cả những hoạt động kinh doanh phải mang giá trị như là một tiêu chí cao nhất với mục đích là vì cộng đồng trên cơ sở các hoạt động kinh doanh không đi ngược lại với chân - thiện - mỹ. Nghĩa là kinh doanh phải đúng, theo pháp luật, có đạo đức, nhân văn, vì điều thiện và phải có văn hóa, phải đẹp. Giá trị đó chính là cốt lõi của văn hóa.
Thực ra, khái niệm văn hóa kinh doanh xuất hiện nhiều trong những năm gần đây là do sự đòi hỏi ngày càng nhiều hơn của cộng đồng, xã hội trong quá trình hội nhập. Cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đã xuất hiện trong 30 năm đổi mới, đã có những đóng góp đáng kể trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được thừa nhận là một trong những lực lượng quan trọng trong xã hội, nhưng vẫn chưa tiệm cận đến văn minh kinh doanh của thế giới mà thực chất là đang học hỏi, "bắt chước" từ các nước phát triển châu Âu và một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore...Thực chất, triết lý kinh doanh trong đội ngũ doanh nhân Việt Nam còn đang loay hoay, thiếu tầm nhìn, lúng túng trong việc xây dựng thương hiệu.
Khi xã hội ngày càng phát triển, hoạt động kinh doanh càng đòi hỏi sự sáng tạo nhiều hơn, nhưng mâu thuẫn giữa việc kiếm lời với có văn hóa và bản sắc vẫn không giải quyết được một cách thỏa đáng, cho nên để có một nền văn hóa kinh doanh Việt Nam vẫn đang là ước muốn lâu dài. Việc một số doanh nghiệp bỏ ra vài chục triệu đồng để xây dựng nhà tình nghĩa cho các hộ nghèo nhưng lại quảng cáo ầm ĩ không hoàn toàn đồng nghĩa với văn hóa kinh doanh. Chỉ có ở Việt Nam mới xuất hiện dạng đại gia phô trương tiền của, siêu xe, biệt thự, tổ chức đám cưới, đám tang rầm rộ hoặc quan hệ với kiều nữ hay giới showbiz, mà ít có doanh nhân, doanh nghiệp hướng tầm nhìn vào dân tộc, đất nước.
Những tật xấu trong kinh doanh của Việt Nam như còn nặng về cách buôn bản nhỏ lẻ, manh mún, tùy tiện, thiên về “bắt chước” mà thiếu tính sáng tạo, đột phá trong hoạt động kinh doanh, thể hiện một tầm nhìn hạn hẹp, tư duy ngắn hạn. Đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng “chặt chém”, buôn bán chụp giật. Trong giao thương với nước ngoài, một bộ phận các doanh nghiệp Việt Nam thiếu sự gắn kết, thiếu tinh thần dân tộc dẫn đến tình trạng đánh mất lợi ích quốc gia. Vẫn còn nhiều doanh nghiệp kinh doanh trên cơ sở sử dụng “quan hệ”, “chạy chọt”, dựa dẫm vào một số quan chức nhà nước. Nhiều doanh nghiệp “cộng sinh’’ với nhà nước, bám vào nhà nước cho nên dẫn đến tình trạng nhà nước nợ lại các doanh nghiệp khi kinh tế khủng hoảng. Thực trạng này phản ảnh sự thiếu vắng triết lý kinh doanh trong phần đông các doanh nghiệp Việt Nam.
Đưa các giá trị, bản sắc văn hóa vào trong hoạt động kinh tế
Từ khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hoạt động kinh doanh phát triển một cách mạnh mẽ, và theo đó quan niệm về kinh doanh cũng đã có sự thay đổi đáng kể. Nghề kinh doanh không còn bị coi thường là “con buôn”, “gian thương”, “buôn gian bán lận”... theo cách hiểu truyền thống, mà được xã hội thừa nhận, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy xã hội phát triển. Ngày 13-10 hằng năm được tôn vinh là Ngày Doanh nhân và tầng lớp doanh nhân được thừa nhận trong đời sống xã hội và hệ thống chính trị như một lực lưọng quan trọng góp phần vào quá trình phát triển đất nước.
Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, vì chạy theo lợi nhuận, kiếm lời bằng mọi cách mà các hoạt động kinh doanh của nhiều doanh nghiệp, doanh nhân đã bỏ qua các yếu tố thuộc phạm trù văn hóa, bất chấp đạo đức, luân lý, pháp luật, gây nên tình trạng rối loạn thị trường, lừa gạt để móc túi người tiêu dùng... dẫn đến sự phát triển thiếu bền vững trong nền kinh tế quốc dân.
Xuất phát từ thực trạng này, cũng như sự đòi hỏi của xã hội về hoạt động kinh doanh mà vấn đề văn hóa kinh doanh được đặt ra như một nhiệm vụ to lớn vì sự phát triền bền vững, nhân văn của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hay nói cách khác văn hóa kinh doanh phải được nhìn nhận như là động lực và mục tiêu của từng doanh nhân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, động lực hay mục tiêu nào thì văn hóa kinh doanh cũng phải có sự hài hòa giữa 3 nhân tố quan trọng là lợi nhuận, tốt đẹp vì cộng đồng và bản sắc. Thiết nghĩ, hiện thực hóa được tinh thần đó là một hành trình lâu dài, trong đó rất cần quan tâm thực hiện tốt những vấn đề cơ bản sau:
Trước hết, văn hóa kinh doanh phải được xây dựng trên một triết lý kinh doanh có bản sắc, nhân văn và hiện đại. Một doanh nghiệp mà không có triết lý kinh doanh để theo đuổi thì sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn, tiểu tiết với động cơ thiếu lành mạnh. Triết lý kinh doanh Việt Nam phải dựa trên nền tảng truyền thống tốt đẹp và bản sắc, hệ giá trị văn hóa Việt Nam. Triết lý kinh doanh sẽ dẫn dắt mọi hoạt động kinh doanh, mọi doanh nghiệp đi đến mục tiêu cuối cùng.
Để có một triết lý kinh doanh đích thực, ngoài việc các doanh nghiệp tự tìm cho mình một hướng đi thì phải được nuôi dưỡng bằng tinh thần dân tộc, truyền thống văn hóa và lý tưởng xã hội do hệ thống chính trị đương thời đưa ra. Thức tỉnh một tinh thần doanh nhân vì sự phồn vinh của đất nước là điều cần phải có đối với cương lĩnh chính trị trong mọi thời điểm.
Thứ hai, trên cơ sở của triết lý kinh doanh, từng bước xây dựng văn hóa doanh nghiệp với tư cách là một dạng thức của văn hóa tổ chức. Đối với một doanh nghiệp thì tài sản của nó thể hiện ở khía cạnh vật thể/hữu thể/hữu hình và khía cạnh phi vật thể/vô thể/vô hình. Văn hóa doanh nghiệp suy cho cùng ngưng kết ở khía cạnh phi vật thể/vô thể/vô hình như giá trị, chữ tín, truyền thống, niềm tin... để tạo nên thương hiệu, bản sắc của doanh nghiệp. Chính giá trị thương hiệu có thể tạo nên tài sản gấp nhiều lần so với tài sản có thực (tài sản vật thể/hữu thể/hữu hình).
Văn hóa tổ chức trong doanh nghiệp đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao từ sự học hỏi văn minh doanh nghiệp trên thế giới và kế thừa giá trị truyền thống. Có nhiều người cho rằng “văn hóa kinh doanh là kinh doanh có văn hóa” nhưng thực ra ý nghĩa của văn hóa kinh doanh không đơn thuần như vậy, mà phải xem văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của kinh doanh; thậm chí văn hóa có thể điều tiết hoạt động kinh doanh theo hướng lành mạnh, tốt đẹp.
Văn hóa tổ chức trong doanh nghiệp còn thể hiện ở nội dung và hình thức của doanh nghiệp. Văn hóa có thể “tô điểm” cho doanh nghiệp bằng sự khác biệt nhưng nó là giá trị, là thương hiệu của doanh nghiệp. Hai chiều cạnh của văn hóa luôn đồng hành với văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp.
Thứ ba, phải xây dựng tầng lớp, đội ngũ doanh nhân có trí tuệ, có lòng yêu nước, tự tôn dân tộc, hết lòng vì sự phồn vinh của đất nước. Đây chính là văn hóa doanh nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đội ngũ này có thể được nuôi dưỡng bởi văn hóa Việt Nam, nhưng cần phải được đào tạo và học hỏi nhiều hơn nữa về nền văn minh thương nghiệp trên thế giới để hội nhập và phát triển. Bản chất lợi nhuận của kinh doanh là thuộc tính cơ bản nhưng văn hóa kinh doanh không phải chỉ là học cách kiếm tiền (cho bản thân) mà học cách kinh doanh (vì cộng đồng, đất nước).
Như vậy, từng bước hiện thực hóa được 3 vấn đề cơ bản này thì văn hóa kinh doanh Việt Nam mới có chỗ đứng trong hoạt động kinh doanh trong khu vực và thế giới. Đây cũng là nhiệm vụ hết sức quan trọng của Nghị quyết Trung ưong 9 khóa XI trong việc xây dựng văn hóa trong kinh tế: “Thường xuyên quan tâm xây dựng văn hóa trong kinh tế. Con người thực sự là trung tâm trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Tạo lập môi trường văn hóa pháp lý, thị trường sản phẳm văn hóa minh bạch, tiến bộ, hiện đại để các doanh nghiệp tham gia xây dựng, phát triển văn hóa. Xây dựng văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân với ý thức tôn trọng pháp luật, giữ chữ tín, cạnh tranh lành mạnh, vì sự phát triển bền vững và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy ý thức và tinh thần dân tộc, động viên toàn dân, trước hết là các doanh nghiệp, doanh nhân xây dựng và phát triển các thương hiệu Việt Nam có uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế”. Thực chất của quan điểm này là đưa các giá trị văn hóa vào trong hoạt động kinh tế (xây dựng văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân, văn minh thương nghiệp, đạo đức nghề nghiệp, văn hóa kinh doanh...).
Tóm lại, văn hóa tham gia vào hoạt động kinh doanh phải được xác định là động lực và mục tiêu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mọi hoạt động kinh doanh muốn bền vững, giữ vững thương hiệu thì phải lấy văn hóa làm thước đo cho mọi hoạt động kinh doanh của mình.
Nguồn: Tạp chí Tuyên giáo tháng 7 năm 2016