Tập đoàn Điện lực Việt Nam vừa ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chương trình hành động số 04-CTr/ĐU của Đảng ủy EVN nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Kế hoạch đặt ra hệ mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ cụ thể, tạo cơ sở để toàn Tập đoàn và các đơn vị thành viên chủ động triển khai trong giai đoạn mới.
Văn bản là bước cụ thể hóa quan trọng, chuyển các định hướng lớn thành chương trình hành động có phân công nhiệm vụ, sản phẩm đầu ra và thời hạn thực hiện rõ ràng trong toàn EVN.
Theo kế hoạch, EVN xác định mục tiêu tổng quát là bảo đảm cung ứng điện an toàn, ổn định cho nền kinh tế và đời sống nhân dân; tăng tốc đầu tư xây dựng nguồn và lưới điện theo quy hoạch; nâng cao chất lượng quản trị theo hướng minh bạch, tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, tạo đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Kế hoạch cũng nhấn mạnh yêu cầu tập trung các nguồn lực về con người, tài chính, công nghệ và tăng cường kiểm tra, giám sát trong suốt quá trình triển khai.
Một điểm nổi bật của kế hoạch là hệ chỉ tiêu được lượng hóa khá rõ đến năm 2030. EVN đặt mục tiêu phối hợp bảo đảm cung ứng điện cho phát triển kinh tế - xã hội với tổng công suất nguồn điện khoảng 183-236 GW, tổng sản lượng điện khoảng 560-624 tỷ kWh, trong đó tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt khoảng 25-30%. Cùng với đó là mục tiêu đưa độ tin cậy cung cấp điện và chỉ số tiếp cận điện năng vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN, đồng thời bảo đảm tiêu chí N-1 đối với vùng phụ tải quan trọng và N-2 đối với vùng phụ tải đặc biệt quan trọng.
Ở hợp phần đầu tư, EVN tiếp tục cho thấy quyết tâm đẩy nhanh các dự án nguồn và lưới điện trọng điểm. Kế hoạch nêu mục tiêu hoàn thành 12 dự án nguồn điện với tổng công suất 5.160 MW, phấn đấu khởi công dự án LNG Quảng Trạch III trong năm 2026 và hoàn thành vào năm 2030, đồng thời triển khai nhanh các dự án nguồn điện mới được bổ sung trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh. EVN cũng xác định tập trung nguồn lực cho dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1, cùng với các hướng đi như thủy điện tích năng, nguồn điện linh hoạt và các giải pháp giảm phát thải tại các nhà máy hiện hữu.
Đối với lưới điện, kế hoạch tiếp tục đặt trọng tâm vào đầu tư các đường dây 500 kV, 220 kV và các trạm biến áp nhằm nâng cao năng lực truyền tải, tăng cường liên kết hệ thống điện và đáp ứng yêu cầu tích hợp ngày càng cao của các nguồn năng lượng tái tạo. EVN đồng thời định hướng đẩy nhanh hệ thống truyền tải ven biển, xây dựng lưới điện thông minh, lưới điện số, giám sát và điều khiển thời gian thực. Đây là những nội dung có ý nghĩa nền tảng trong quá trình hiện đại hóa hệ thống điện quốc gia.
Song song với đầu tư hạ tầng, EVN cũng đặt ra các chỉ tiêu quản trị và vận hành đáng chú ý như đầu tư hằng năm tối thiểu 120.000 tỷ đồng, giảm tỷ lệ điện dùng cho truyền tải và phân phối xuống 5,8% vào năm 2030, trở thành doanh nghiệp số toàn diện, nâng năng suất lao động bình quân 8% mỗi năm, duy trì lợi nhuận sản xuất kinh doanh tối thiểu 3% và nộp ngân sách hằng năm từ 23.000 đến 24.000 tỷ đồng. Cách đặt mục tiêu này cho thấy yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng không chỉ dừng ở bài toán đủ điện, mà còn gắn chặt với hiệu quả đầu tư, hiệu quả vận hành và năng lực quản trị doanh nghiệp trong giai đoạn mới.
Phụ lục nhiệm vụ kèm theo kế hoạch cho thấy EVN lựa chọn cách tiếp cận toàn diện hơn đối với an ninh năng lượng. Ngoài nhóm nhiệm vụ về tăng cường lãnh đạo, kiểm tra, giám sát, EVN còn đặt trọng tâm vào việc hoàn thiện cơ chế, huy động nguồn lực xã hội, nghiên cứu hình thức hợp tác với nhà đầu tư tư nhân, thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong ngành năng lượng. Kế hoạch cũng đề cập đến các giải pháp giảm phát thải khí nhà kính, lộ trình giảm dần nhiên liệu hóa thạch, nghiên cứu công nghệ thu hồi, lưu giữ và tái sử dụng carbon, phát triển hệ thống quan trắc môi trường tự động tại các dự án năng lượng.
Đối với các đơn vị thành viên, EVN yêu cầu tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao bảo đảm chất lượng, đúng tiến độ và chủ động xây dựng kế hoạch hành động của từng đơn vị để hiện thực hóa các mục tiêu, nhiệm vụ được phân công; đồng thời báo cáo kết quả thực hiện định kỳ 6 tháng, hằng năm hoặc khi có yêu cầu đột xuất. Đây là nội dung rất quan trọng, bởi hiệu quả của kế hoạch sẽ được đo bằng mức độ cụ thể hóa tại từng đơn vị, từng lĩnh vực công tác và từng địa bàn phụ tải.
Với EVNSPC, kế hoạch hành động mới của EVN là định hướng quan trọng để tiếp tục cụ thể hóa thành các chương trình, nhiệm vụ sát với thực tiễn khu vực phía Nam, nơi nhu cầu điện tiếp tục tăng cùng quá trình phát triển công nghiệp, đô thị và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Trong bối cảnh đó, các yêu cầu về tăng tốc đầu tư lưới điện, nâng cao độ tin cậy cung cấp điện, đẩy mạnh chuyển đổi số, sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả, cũng như chuẩn bị hạ tầng để thích ứng với xu hướng năng lượng xanh và lưới điện hiện đại sẽ có ý nghĩa thực tiễn rất rõ trong giai đoạn tới. Từ một kế hoạch ở cấp Tập đoàn, yêu cầu hành động đang được đặt ra ngày càng cụ thể hơn với từng đơn vị thành viên, trong đó có EVNSPC, để cùng góp phần bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia./.