Ngày 20/3/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 458/QĐ-TTg phê duyệt cập nhật Đề án triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP). Văn bản cho thấy chuyển đổi xanh không còn được nhìn như một mục tiêu môi trường đơn lẻ, mà đã được đặt trong cùng bài toán với an ninh năng lượng, cung ứng đủ điện và từng bước làm chủ công nghệ năng lượng. Đây là thay đổi quan trọng trong cách tiếp cận chính sách: phát triển năng lượng sạch giờ gắn trực tiếp với yêu cầu tự chủ và sức chống chịu của hệ thống điện quốc gia.
chuyển đổi năng lượng công bằng (ảnh minh họa)
Điểm cần nhấn mạnh là Quyết định 458 không xem JETP như một chương trình triển khai độc lập. Ngay trong phần căn cứ ban hành, văn bản dẫn Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia; đồng thời tại mục tiêu tổng quát, Quyết định xác định rõ việc triển khai Tuyên bố JETP phải gắn với thực hiện Nghị quyết 70-NQ/TW và Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Cách đặt vấn đề này cho thấy chuyển đổi xanh đã được kéo hẳn vào trục điều hành chiến lược của ngành năng lượng, nơi yêu cầu giảm phát thải phải đi cùng yêu cầu đủ điện, an toàn hệ thống và tự chủ năng lượng. Nội dung này nằm tại trang 1 phần căn cứ và trang 2, Điều 1, Mục II, khoản 1 của Quyết định.
Nội dung của Quyết định 458 không dừng ở việc khuyến khích phát triển điện gió ngoài khơi, điện mặt trời hay các nguồn năng lượng mới. Đề án còn đặt ra yêu cầu hoàn thiện thể chế để thu hút đầu tư vào hệ thống lưu trữ năng lượng, nghiên cứu tiêu chuẩn cho các công nghệ như thu hồi và lưu trữ carbon, hydro xanh, amoniac xanh, đồng thời huy động nguồn lực để nâng cấp đồng bộ hạ tầng sản xuất, truyền tải, tích trữ, phân phối và điều hành điện thông minh. Trọng tâm vì vậy đã dịch chuyển rõ: không chỉ là có thêm nguồn điện, mà là phải hình thành một hệ thống đủ khả năng tiếp nhận, điều phối và vận hành an toàn các nguồn điện mới trên quy mô lớn.
Các mục tiêu định lượng của Đề án cho thấy mức độ quyết liệt của giai đoạn tới. Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu nâng tỷ lệ nguồn năng lượng tái tạo lên khoảng 47% tổng công suất điện, giữ tổng công suất nhiệt điện than trong khoảng 30,2 đến 31,055 GW và kiểm soát phát thải khí nhà kính từ ngành điện ở mức đỉnh không quá 170 triệu tấn CO2 tương đương. Sau năm 2030, định hướng tiếp tục siết chặt hơn theo hướng không xây mới nhiệt điện than, dừng các nhà máy than trên 40 năm tuổi nếu không thể chuyển đổi nhiên liệu, hướng tới năm 2050 năng lượng tái tạo chiếm khoảng 80-85% tổng năng lượng sơ cấp. Những chỉ tiêu này cho thấy bài toán tự chủ năng lượng thời gian tới sẽ phụ thuộc ngày càng lớn vào lưới điện thông minh, công nghệ lưu trữ và khả năng làm chủ hạ tầng kỹ thuật.
Với Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC), hàm ý của Quyết định 458 rất trực diện. Khi điện mặt trời tự sản tự tiêu, nguồn điện phân tán và trong tương lai là các hệ thống lưu trữ tăng dần tỷ trọng, áp lực sẽ dồn thẳng lên lưới điện khu vực phía Nam. Khả năng tiếp nhận công suất, liên kết mạch vòng, nâng độ linh hoạt vận hành và xử lý sớm các điểm nghẽn quá tải sẽ quyết định việc chủ trương chuyển đổi năng lượng có đi vào thực tế hay không. Nói cách khác, yêu cầu tự chủ năng lượng ở tầm quốc gia đang chuyển thành yêu cầu rất cụ thể đối với EVNSPC: hạ tầng lưới điện phải được chuẩn bị sớm hơn, đồng bộ hơn và thông minh hơn.
Từ góc nhìn vận hành, thông điệp của Quyết định 458 đã đủ rõ. Khả năng làm chủ năng lượng trong giai đoạn tới sẽ không được quyết định chỉ bằng việc có thêm bao nhiêu MW nguồn điện mới, mà bằng việc lưới điện truyền tải và phân phối có theo kịp hay không. Với EVNSPC, đó không còn là câu chuyện định hướng dài hạn. Đó là yêu cầu hiện hữu đối với chuẩn bị hạ tầng, chất lượng đầu tư và năng lực vận hành hệ thống trong giai đoạn tích hợp sâu hơn các nguồn điện xanh vào lưới điện miền Nam./.
Quyết định 458 tại đây.